Mùa Thu năm 2025 - Đánh dấu mốc son lịch sử 80 năm kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - là dịp đặc biệt để chúng ta nhìn lại chặng đường đã qua, khẳng định những thành tựu to lớn, rút ra bài học quý báu cho chặng đường phía trước.

Hình ảnh minh họa
Trong suốt tám thập kỷ đầy chông gai và thử thách, phát triển kinh tế
luôn giữ vai trò trung tâm trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Chặng
đường 80 năm phát triển kinh tế không chỉ là bản trường ca của bản lĩnh, trí tuệ,
ý chí đổi mới và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn là quá trình chuyển
hóa tư duy lãnh đạo, hoàn thiện thể chế, quản trị quốc gia, hội nhập toàn cầu,
thực hiện khát vọng kiến tạo tương lai tươi sáng của đất nước.
Thời kỳ kháng chiến, kiến quốc, thu non sông về một dải, kinh tế nước ta
chịu ảnh hưởng sâu sắc của chiến tranh, đất nước chia cắt và xung đột hệ tư tưởng.
Miền Bắc cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ: xây dựng CNXH và chi viện
cho miền Nam, nền kinh tế vận hành theo mô hình kế hoạch hóa tập trung.
Chính sách kinh tế gắn liền với nhiệm vụ chính trị, đặt mục tiêu
chính trị lên trên hiệu quả kinh tế; cải tạo XHCN, thực hiện cải cách ruộng đất;
hợp tác hoá nông nghiệp; quốc hữu hóa công thương nghiệp tư nhân.
Miền Nam thực hiện mô hình kinh tế thị trường; tư nhân hóa và tự do
thương mại, kinh tế tư nhân đóng vai trò chủ yếu; xây dựng hệ thống hạ tầng kết
nối với khu vực và thế giới; mở rộng, phát triển đô thị lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng,
Cần Thơ.
Thời kỳ này, nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, chủ yếu dựa vào nông nghiệp
tự cung tự cấp và viện trợ nước ngoài, phát triển kém năng động, hiệu quả thấp.
Điều hành kinh tế theo mệnh lệnh hành chính tuyệt đối, duy ý trí, đất nước
không có chính sách phát triển kinh tế đúng nghĩa, chỉ có chính sách sinh tồn
trong chiến tranh.
Đất nước vừa thống nhất đã phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh biên
giới Tây nam và phía Bắc, cùng với cấm vận, cô lập của quốc tế, kinh tế kiệt quệ,
cơ sở vật chất, hạ tầng giao thông bị tàn phá; tài chính quốc gia thiếu hụt
nghiêm trọng.
Quan điểm và cơ chế quản lý kinh tế duy ý chí, mệnh lệnh hành chính, bao
cấp toàn diện, áp dụng triệt để mô hình kế hoạch hoá tập trung, ngân sách nhà
nước là nguồn “tài nguyên” chủ yếu, bao cấp toàn diện cho mọi hoạt động kinh tế-xã
hội; xóa bỏ đội ngũ doanh nhân tinh hoa miền Nam bằng cuộc “Cải tạo công thương
nghiệp tư bản, tư doanh”; nhà nước kiểm soát, điều hành toàn bộ hoạt động sản
xuất, phân phối theo mệnh lệnh hành chính, việc quyết định sản xuất, định giá
hàng hoá không theo quy luật thị trường. Sản xuất đình trệ, ngăn sông cấm chợ,
hàng hoá khan hiếm, tình trạng chợ đen diễn ra phổ biến, giá cả tăng vọt, người
dân đầu cơ, tích trữ những loại hàng hoá thiết yếu.
Cơ chế quản lý không phù hợp đã triệt tiêu động lực và sự hiệu quả của
thị trường. Sản xuất yếu kém, nguồn thu ít, nhu cầu chi tiêu lớn cho khôi phục
đất nước và chiến tranh biên giới, hệ thống quản lý hành chính phình to khiến
thâm hụt ngân sách kéo dài, bội chi được bù đắp bằng phát hành tiền. Giai đoạn
1981-1985, lượng tiền cung ứng vào nền kinh tế bình quân mỗi năm tăng 64,7%. Hệ
thống và kỷ luật tài khoá thiếu minh bạch, hệ thống ngân sách bị cắt khúc, gây
nên khủng hoảng tài chính, tiền tệ trầm trọng.
Để xử lý khủng hoảng kéo dài, Đảng và Nhà nước đã thực hiện cải cách Giá
- Lương - Tiền bằng việc đổi tiền, tăng lương, điều chỉnh giá. Cuộc cải cách
gây nên hậu quả nặng nề, lạm phát bùng phát nghiêm trọng hơn ngay sau khi đổi
tiền vào tháng 9 năm 1985; sức mua của nền kinh tế suy giảm; vàng, đô la Mỹ,
hàng hóa tiêu dùng thiết yếu trở thành “tiền thật” trong giao dịch; lạm phát
tăng vọt lên mức 453,5% vào năm 1986.
Nguyên nhân đẩy nền kinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng, lạm phát phi
mã là do “căn bệnh trầm kha” duy ý chí, mệnh lệnh hành chính, rào cản tư duy về
hệ tư tưởng, thiếu chuẩn bị nền tảng sản xuất và tâm lý xã hội; không thể kiểm
soát lạm phát một khi thị trường hàng hoá lâm vào tình trạng cung không đủ cầu
và bằng biện pháp hành chính.
Đổi mới, bước ngoặt sống còn của dân tộc
Trong bối cảnh nền kinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng, siêu lạm phát,
đời sống nhân dân gặp vô vàn khó khăn, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm
1986 đã đưa ra quyết định lịch sử, tạo bước ngoặt ấn tượng trong chặng đường
phát triển kinh tế của đất nước, đó là: Thực hiện công cuộc đổi mới toàn
diện, trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế.
Đây là bước ngoặt mang tính sống còn, không chỉ giải cứu nền kinh tế mà
còn mở ra thời kỳ phát triển mới trong hoà bình, năng động và hội nhập. Đổi mới
đầu tiên, quan trọng nhất đó là đổi mới tư duy và quan điểm kinh tế, chuyển đổi
mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, tập
trung thực hiện bốn lĩnh vực then chốt, thiết thực của đất nước, bao gồm:
Cải cách thể chế kinh tế: Công nhận nền kinh tế nhiều thành phần với sự
tồn tại và phát triển của kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đổi
mới phương thức quản lý doanh nghiệp nhà nước từ bao cấp sang hạch toán kinh
doanh, từng bước tự chủ tài chính; ban hành một số luật mang tính nền tảng, tạo
đòn bẩy cho phát triển kinh tế như: Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Doanh nghiệp
tư nhân, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã.
Đổi mới chính sách nông nghiệp, nông thôn: Thực hiện khoán 10, giao quyền
sử dụng đất và sản phẩm thu được trên đất cho nông dân, xoá bỏ cơ chế quản lý tập
trung cứng nhắc, tạo động lực sản xuất cho nông dân.
Cải cách tài khóa, tiền tệ: Xóa bỏ cơ chế bao cấp; thiết lập mối quan hệ
hàng hóa - tiền tệ theo cơ chế thị trường; xây dựng hệ thống ngân sách, ngân
hàng hai cấp, nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ vốn, phù hợp với thông lệ
và chuẩn mực quốc tế.
Thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế: Trong bối cảnh nền kinh tế
bị cô lập, xu thế toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước đã đổi mới tư
duy, xác định hội nhập quốc tế, thu hút vốn FDI là động lực quan trọng thúc đẩy
tăng trưởng và chuyển đổi mô hình phát triển.
Thực hiện chính sách này, năm 1993 Việt Nam là thành viên của Ngân hàng
Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á; năm 1998 gia nhập
APEC; năm 2000 ký Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ, mở cửa thị trường
Hoa kỳ, tạo bước đệm quan trọng để Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) vào năm 2007.
Thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế thời kỳ đổi mới và chuyển
sang kinh tế thị trường đó là đất nước đã vượt qua khủng hoảng, kinh tế tăng
trưởng cao, ổn định với tốc độ tăng GDP trung bình năm giai đoạn 1986-1990 đạt
4,4%; giai đoạn 1991-2000 đạt 7%; chấm dứt tình trạng siêu lạm phát kéo dài nhiều
năm, lạm phát từ mức 3 con số 453,5% năm 1986 giảm xuống 95,8% năm 1989 và
37,7% năm 1992; đảm bảo an ninh lương thực; thu hút khá mạnh dòng vốn FDI, thời
kỳ 1986 -2000 nền kinh tế thu hút được trên 40 tỷ USD vốn FDI đăng ký, hình
thành một số khu công nghiệp, khu chế xuất; khu vực kinh tế ngoài nhà nước dần
trỗi dậy với làn sóng thành lập doanh nghiệp mạnh mẽ.
Xuất khẩu tăng trưởng nhanh, ổn định. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2000
đạt 14,45 tỷ USD, gấp 18,3 lần năm 1986; tạo nguồn thu ngoại tệ, cải thiện cán
cân thanh toán, tạo việc làm cho hàng triệu lao động, giúp ổn định kinh tế vĩ
mô, nâng cao vị thế thương mại hàng hóa quốc tế của Việt Nam.
Năm 1986 đánh dấu công cuộc đổi mới kinh tế lần thứ nhất, với đổi mới tư
duy, quan điểm và chuyển đổi mô hình kinh tế, tạo bước ngoặt lịch sử, mang tính
sống còn của dân tộc trong tiến trình phát triển. Các chính sách cải cách
sâu rộng trong thời kỳ này không chỉ đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng mà còn
tạo dựng nền tảng vững chắc cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá và hội
nhập quốc tế sâu rộng trong những năm tiếp theo.
Bứt phá trong hội nhập và tăng trưởng, chuyển
đổi mô hình phát triển
Phát huy thế và lực, nắm bắt cơ hội từ mở cửa và hội nhập quốc tế của thời
kỳ 1986 - 2000, Đảng và Nhà nước thực hiện chiến lược bứt phá đồng thời trên 3
“mũi giáp công”, đặt nền móng cho phát triển nhanh, bền vững trong thế kỷ 21.
Dấu ấn bứt phá trong hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng thị trường,
nâng tầm vị thế quốc gia là sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, mở ra chặng đường hội
nhập toàn diện vào kinh tế toàn cầu, là thành viên năng động của APEC, ASEAN,
Liên Hợp Quốc.
Cùng với đó, Việt Nam tích cực tham gia, ký kết nhiều hiệp định thương mại
tự do thế hệ mới, mở rộng đối tác chiến lược và không gian kinh tế, tăng cơ hội
tiếp cận thị trường toàn cầu, thu hút vốn, công nghệ, tri thức mới, nâng tầm vị
thế quốc gia. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2020 đạt 282,6 tỷ USD, gấp
19,5 lần so với năm 2000.
Dấu ấn bứt phá về kinh tế được minh chứng qua tốc độ tăng GDP nhanh và ổn
định, từng bước chuyển dịch sang chiều sâu, quy mô kinh tế ngày càng mở rộng,
đóng góp của các khu vực kinh tế ngày càng cân bằng, lạm phát được kiểm soát.
Tốc độ tăng GDP bình quân 20 năm của thời kỳ 2001-2020 đạt 6,58%; GDP
bình quân đầu người năm 2020 đạt mức 2.779 USD gấp 5,57 lần năm 2000, đưa Việt
Nam thoát ra khỏi nhóm nước nghèo, vượt ngưỡng thu nhập trung bình thấp. Năm
2020, tỷ lệ GDP của khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm 50,56% GDP toàn nền
kinh tế cao hơn nhiều so với tỷ lệ 20,66% của khu vực nhà nước.
Chuyển đổi mô hình phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu: Chủ động
chuyển dần mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ
sang từng bước ứng dụng khoa học công nghệ, tăng năng suất. Cơ cấu kinh tế chuyển
dịch rõ rệt. Khu vực ngoài nhà nước phát triển nhanh, trở thành động lực tăng
trưởng mới, ngày càng quan trọng; khu vực FDI năng động, chiếm trên 70% kim ngạch
xuất khẩu.
Thời kỳ 2001-2020 đánh dấu chặng đường phát triển mạnh mẽ, toàn diện, hội
nhập quốc tế sâu rộng, ghi dấu ấn bằng những thành tựu mang tính nền tảng của
kinh tế nước ta. Bên cạnh những điểm sáng, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều
thách thức cả khách quan và chủ quan, cản trở sự phát triển bền vững và công cuộc
hiện đại hoá đất nước.
Kinh tế thế giới biến động khó lường, với khủng hoảng tài chính năm
2008-2009; tiêu chuẩn hội nhập cao hơn, khắt khe hơn khiến kinh tế Việt Nam phải
đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt về thu hút vốn FDI, công nghệ,
chi phí lao động; các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đặt ra yêu cầu
nghiêm ngặt về môi trường, sở hữu trí tuệ, lao động, quản trị - đây là những điểm
yếu của doanh nghiệp Việt. Các tiêu chuẩn này ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động
thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng của nước ta.
Những hạn chế, thách thức chủ quan trong nội tại nền kinh tế đến từ sự
giằng co giữa tư duy hệ tư tưởng và yêu cầu thực tiễn của thị trường dẫn tới thể
chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, chưa minh bạch; chất lượng nguồn nhân lực
và khoa học công nghệ còn yếu; hạ tầng phát triển chưa đồng bộ, đầu tư công dàn
trải, lãng phí, hiệu quả thấp; mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn đầu tư,
lao động giá rẻ, năng suất lao động thấp.
Đặc biệt, hệ thống pháp luật, chính sách chưa đồng bộ, còn chồng chéo;
cơ chế xin - cho và can thiệp hành chính còn nặng nề; thể chế về thị trường các
yếu tố sản xuất phát triển chậm; thiếu thể chế cho đổi mới sáng tạo và phát triển
bền vững; tổ chức bộ máy và quản trị nhà nước chưa hiệu quả là các nút thắt gây
khó khăn nhất đối với phát triển kinh tế.
Những khó khăn, thách thức do khách quan và chủ quan đặt ra yêu cầu cấp
thiết phải cải cách toàn diện và sâu sắc. Chỉ khi vượt qua những điểm nghẽn,
rào cản cố hữu, kinh tế Việt Nam mới thực sự phát triển nhanh, bền vững trên
hành trình trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển
vào năm 2045.
Khởi xướng công cuộc đổi mới lần thứ hai, đưa
đất nước vào kỷ nguyên phát triển thịnh vượng
Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2025 diễn ra trong bối cảnh thế giới có
những biến động sâu sắc về địa chính trị, chuyển đổi số, kinh tế thế giới bất định,
khó lường; mô hình toàn cầu hoá thay đổi, kinh tế thế giới phân mảng dẫn tới
chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu, cùng với xu hướng tăng trưởng xanh, bền vững.
Lợi ích và an ninh quốc gia đang định hình toàn diện mọi chính sách kinh tế thế
giới. Bên cạnh đó dịch Covid-19 tạo ra cú sốc lớn chưa từng có đối với kinh tế
toàn cầu, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải cải cách thể chế và đổi mới mô hình
tăng trưởng.
Kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, đương đầu với những thách thức từ hậu quả
nặng nề của dịch Covid -19 gây nên gián đoạn chuỗi cung ứng, đình trệ sản xuất,
thu nhập của người lao động suy giảm, ảnh hưởng tới tổng cầu trong nước. Hạ tầng
kinh tế-xã hội chưa đồng bộ, thiếu liên kết vùng; chất lượng nguồn nhân lực
chưa đáp ứng yêu cầu của CMCN 4.0.
Do rào cản tư duy về hệ tư tưởng nên thể chế và chính sách kinh tế nhiều
khi không phù hợp với logic vận hành của kinh tế thị trường, gây lực cản cho sự
phát triển ở nhiều thời điểm quan trọng; thể chế vẫn là điểm nghẽn nghiêm trọng;
môi trường kinh doanh chưa công khai, minh bạch; khu vực kinh tế tư nhân vẫn gặp
khó khăn trong tiếp cận nguồn lực đất đai, vốn, tín dụng. Cơ cấu lại nền kinh tế,
đổi mới mô hình tăng trưởng diễn ra chậm; đổi mới sáng tạo chưa trở thành động
lực chính, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và năng suất lao động thấp.
Những thách thức, biến động khó lường trong giai đoạn 2021 - 2025 là
phép thử đối với năng lực điều hành của Chính phủ. Trong bối cảnh khủng hoảng
chồng chéo, chính sách vĩ mô đóng vai trò “Mỏ neo ổn định”, cũng là “Bệ đỡ phục
hồi” và “Đòn bẩy cải cách” cho nền kinh tế, đồng thời giữ vững ổn định hệ thống
tài chính, kiểm soát lạm phát, duy trì niềm tin thị trường.
Ngày nay, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới, xác lập trật tự thế
giới mới, với những đột phá, những thay đổi mang tính thời đại. Hệ thống kinh tế
thế giới đang định hình lại, đứng trước nhiều ngã rẽ. Để tăng cường khả năng ứng
phó với những biến động trong kỷ nguyên mới, thực hiện khát vọng xây dựng một
nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà
nước đã khởi xướng công cuộc đổi mới lần thứ hai - Đổi mới hệ thống chính trị đồng
bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, đổi mới mạnh mẽ tư duy, quan điểm
phát triển kinh tế, tư duy quản trị và điều hành đất nước. Đã đến lúc phải
thoát khỏi tư duy mệnh lệnh và rào cản tư duy về hệ tư tưởng.
Chúng ta vui mừng đón nhận sự chỉ đạo cương quyết, khẩn trương của Bộ
Chính trị trong đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong sắp xếp
lại bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phân định rõ chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể chính trị xã hội.
Cùng với đó, Đảng và Nhà nước đang tiếp tục xây dựng nền hành chính hiện
đại, liêm chính, phục vụ nhân dân; đẩy mạnh dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường minh bạch thông tin, đối thoại, tham vấn
chính sách với nhân dân.
Trong gần một năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị
quyết nhằm thực hiện đổi mới đồng bộ hệ thống kinh tế và chính trị. Thực hiện Bộ
tứ trụ cột chiến lược sẽ: tạo môi trường thể chế ổn định, minh bạch, hiệu quả
cho hoạt động kinh tế. Chỉ khi nào thể chế thực sự vận hành theo logic của
kinh tế thị trường hiện đại, Việt Nam mới có thể khai mở toàn bộ tiềm năng phát
triển trong kỷ nguyên mới; tạo đột phá về năng suất, phát triển mô hình tăng
trưởng mới, ưu việt; mở rộng không gian phát triển, thu hút nguồn lực toàn cầu;
tạo động lực tăng trưởng nội sinh, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và đổi
mới sáng tạo.
Cùng với thực hiện Bộ tứ trụ cột chiến lược, Đảng và Nhà nước sắp xếp lại
địa giới và đơn vị hành chính là bước đi quan trọng trong đổi mới chính trị đồng
bộ với đổi mới kinh tế, tạo sự gắn kết chặt chẽ không gian phát triển kinh tế
và địa giới hành chính, khơi dậy nguồn lực, tạo đột phá trong phát triển kinh tế
địa phương.
Để công cuộc đổi mới lần thứ hai thành công, mở ra tương lai phát triển
độc lập, tự cường và thịnh vượng, tôi thiết nghĩ Đảng và Nhà nước cần cải cách,
đổi mới đồng bộ trên 5 lĩnh vực:
Một là, cải cách, đổi mới thể chế kinh tế đảm bảo chất lượng, sự phù hợp
với thực tiễn của các quy định hiện hành; nâng cao hiệu quả và tính minh bạch
trong thực thi pháp luật; kiểm soát chất lượng của những quy định mới, không tạo
ra xung đột chính sách và cản trở sự phát triển.
Khi thể chế phù hợp với thực tiễn đồng nghĩa với điểm nghẽn về thể chế
biến mất. Khi thực thi pháp luật minh bạch, hiệu quả đồng nghĩa với sự nhũng
nhiễu, cơ chế xin - cho, tham nhũng, lãng phí không còn đất sống. Khi kiểm soát
tốt chất lượng của những quy định mới, không tạo ra xung đột chính sách và cản
trở sự phát triển đồng nghĩa với không phát sinh điểm nghẽn mới, thể chế thực sự
tạo động lực phát triển.
Hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân,
có năng lực kiến tạo phát triển, tạo dựng chính sách với tầm nhìn chiến lược,
quản trị hiệu quả và phục vụ nhân dân là mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng nhất
trong đổi mới chính trị hiện nay để phù hợp với đổi mới kinh tế.
Ba là, cải cách toàn diện, triệt để, sâu sắc hệ thống giáo dục theo quan
điểm “Giáo dục tri thức nguyên bản”, không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà
còn là nền móng không thể thiếu để Việt Nam bứt phá về khoa học, công nghệ, độc
lập, tự chủ trong phát triển, vươn tầm thế giới. Cần xây dựng nền giáo dục dạy
cách sáng tạo ra tri thức, chứ không chỉ học lại tri thức.
Bốn là, cơ cấu lại nền kinh tế, tạo dựng mô hình tăng trưởng mới ưu việt,
tạo động lực tăng trưởng mới từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng
nền tảng đảm bảo tăng trưởng nhanh, bền vững theo xu hướng kinh tế xanh, kinh tế
tuần hoàn; thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân khởi nghiệp; nâng cao năng suất lao
động, năng lực cho ạnh tranh quốc gia;
Năm là, kiến tạo, phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp dân tộc trở
thành lực lượng quan trọng nhất, đội quân tiên phong trong phát triển và hội nhập
kinh tế thế giới.
Những thành tựu và bất cập trong 80 năm phát triển kinh tế là minh chứng
sinh động cho chân lý: đổi mới là yêu cầu nội sinh, là quy luật tồn tại và phát
triển của đất nước. Đổi mới vì dân, do dân, phục vụ nhân dân là cốt lõi; đổi mới
dựa trên khoa học, công lý, thực tiễn là nguyên tắc; đổi mới để giữ vững độc lập,
chủ quyền, phát triển bền vững và hùng cường là mục tiêu.
Đổi mới trở thành động lực phát triển kinh tế trong suốt 4 thập kỷ qua,
xóa bỏ cơ chế quản lý mệnh lệnh hành chính, bao cấp; đất nước vượt qua khủng hoảng;
Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế năng động, với quy mô GDP tăng
vượt bậc. Năm 1986, quy mô GDP của nền kinh tế chỉ đạt 8 tỷ USD, đến năm 2024 ước
đạt 476,3 tỷ USD, gấp 59,5 lần.
Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao; tỷ lệ hộ nghèo
giảm từ 58% năm 1993 xuống dưới 3% năm 2024. Tầng lớp trung lưu đã hình thành
và phát triển nhanh, ấn tượng trong những năm qua; năm 2022, tầng lớp trung lưu
chiếm 13% dân số cả nước.
Thành tựu 80 năm không chỉ đo đếm bằng tốc độ tăng trưởng, quy mô, tỷ lệ
hộ nghèo của nền kinh tế mà còn thể hiện ở năng lực điều hành linh hoạt chính
sách vĩ mô, sức chống chịu của nền kinh tế trước những cú sốc toàn cầu.
Nếu đổi mới lần thứ nhất là sự lựa chọn có tính sống còn để giải cứu nền
kinh tế, không có đổi mới năm 1986, sẽ không có Việt Nam hôm nay, thì đổi mới
năm 2025 và những năm tiếp theo là điều kiện tiên quyết để Việt Nam hiện thực
hóakhát vọng phát triển nhanh, bền vững.
Chặng đường 80 năm phát triển kinh tế Việt Nam là hành trình lịch sử hào
hùng, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của cả dân tộc.
Từ một nền kinh tế nông nghiệp thuộc địa, nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá bởi
chiến tranh. Việt Nam đã từng bước vượt qua khó khăn, tiến hành công cuộc đổi mới
toàn diện, đang tiến tới xây dựng nền kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập quốc
tế sâu rộng, đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Những thành
quả này không chỉ khẳng định con đường phát triển đúng đắn mà còn là nền tảng vững
chắc để hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc vào
năm 2045./.
Nguyễn Bích Lâm
Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê







