Tìm kiếm
Tra cứu biểu phí, giao thông trực tuyến và các thông tin khác
Sơ kết thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW: Lần đầu tiên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trở thành nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị
Chiều 01/7, tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 01 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh đã trình bày Báo cáo tóm tắt sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Tiếp tục hoàn thiện, nhân rộng một số mô hình tiêu biểu trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW
Đồng chí Nguyễn Hải Ninh cho biết, kể từ khi ban hành Nghị quyết, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết 57 được thực hiện khẩn trương, quyết liệt và đồng bộ. Tính đến ngày 29/6/2026, Ban chỉ đạo đã giao 1.937 nhiệm vụ. Các cơ quan đã hoàn thành 84,8% nhiệm vụ có thời hạn; xử lý 1.009/1.071 phản ánh, kiến nghị, sáng kiến, giải pháp, đạt 94,2%.
Về hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, các cơ quan đã xây dựng, trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hơn 400 văn bản. Tư duy quản lý khoa học đã chuyển từ chú trọng quản lý hoạt động khoa học công nghệ sang kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Một số chính sách mang tính đột phá đã được ban hành như thử nghiệm có kiểm soát, khoán chi, chấp nhận rủi ro, về sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thu hút nhân tài…
Về chuyển đổi số quốc gia, ngay khi mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, công tác chuyển đổi số đã được ban chỉ đạo trung ương và các cơ quan, địa phương chỉ đạo quyết liệt, kịp thời và bước đầu đã đạt một số kết quả tích cực trong toàn hệ thống chính trị.
Trong đó, Cổng dịch vụ công quốc gia đã tích hợp cung cấp dịch vụ công trực tuyến 3.745 thủ tục hành chính, mang hiệu quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước. Năm 2025, ước tiết kiệm khoảng 840 tỉ đồng ở trung ương và 4.800 tỉ đồng ở địa phương.
Đối với hạ tầng số, mạng bảo mật liên thông cơ bản hoàn thành, đạt gần 98% với 7.137 điểm kết nối. Mạng 5G phủ sóng khoảng 92% dân số. Cáp quang kết nối 100% các xã, phường. Trung tâm dữ liệu quốc gia đưa vào khai thác, vận hành hiệu quả. Các doanh nghiệp trong nước bước đầu hình thành năng lực tự chủ, sẵn sàng cho phát triển trí tuệ nhân tạo ở quy mô lớn.
Về nền tảng và dữ liệu số, đã đưa vào sử dụng 16/26 hệ thống nền tảng khối cơ quan Đảng. Ứng dụng Quốc hội 2.0 tích hợp AI trong xử lý dữ liệu số. Ứng dụng VNeID với hơn 71 triệu tài khoản định danh, đã cấp hơn 30,1 triệu căn cước. Hoàn thành kết nối đồng bộ 8/12 cơ sở dữ liệu theo Kế hoạch 02 của Ban chỉ đạo và 65/104 cơ sở dữ liệu theo Nghị quyết 11 của Chính phủ. Các địa phương cũng đẩy nhanh công tác xây dựng, làm sạch dữ liệu, tạo nền tảng cho quản trị dựa trên dữ liệu, như tỉnh Hà Tĩnh đã làm sạch 100% cơ sở dữ liệu đảng viên; tỉnh Lạng Sơn là địa phương đầu tiên hoàn thành 100% tiêu chí mức xanh theo Kế hoạch 02 của Ban chỉ đạo.
Về an ninh mạng, Bộ Công an đã phối hợp triển khai các giải pháp giám sát, bảo đảm an toàn thông tin đối với hạ tầng đường truyền, cơ sở dữ liệu, hệ thống trọng yếu của hệ thống chính trị. Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ đã triển khai mạng mật liên thông kết nối bốn khối và các giải pháp bảo mật cơ yếu.
Về nhân lực số, phong trào Bình dân học vụ số năm 2026 đã tổ chức 150 lớp trực tuyến với hơn 880.000 lượt học, giảm gần 80% chi phí. Khóa học trực tuyến đại chúng mở có 62,9 nghìn cán bộ cấp xã hoàn thành, đạt 75%. Nền tảng trực tuyến bình dân học vụ số, Quốc hội số được triển khai miễn phí cho khâu xây dựng học liệu, ghi nhận hơn 91% đại biểu Quốc hội, cán bộ, công chức hoàn thành.
Đối với lĩnh vực kinh tế số, xã hội số, đồng chí Nguyễn Hải Ninh cho biết, tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 đạt 14%. Thương mại điện tử đạt 31 tỉ USD, tăng 20%, dự kiến vượt 60 tỉ USD vào năm 2030. Doanh thu bốn sàn thương mại điện tử lớn ước tăng 34,7%; hơn 12.400 cơ sở y tế dùng căn cước thay thẻ bảo hiểm y tế giấy, đã hình thành 2,5 triệu bệnh án điện tử, tiết kiệm khoảng 1.000 tỉ đồng một năm…
Báo cáo kết quả nổi bật về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng chí Nguyễn Hải Ninh nêu rõ, tháng 4/2026, Thủ tướng đã ban hành danh mục công nghệ chiến lược mới với 10 nhóm công nghệ chiến lược, 30 nhóm sản phẩm và giao 20 bài toán lớn cho 10 bộ, cơ quan thực hiện. Trong nước bước đầu đã có các doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ chiến lược về 5G, truy xuất nguồn gốc, robot, y sinh học…
Về hạ tầng nghiên cứu, sở hữu trí tuệ và cổng sáng kiến, sàn giao dịch khoa học công nghệ, hiện cả nước có 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và 184 phòng thí nghiệm đại học. Năm 2025, số đơn đăng ký quyền bảo hộ tăng 33% với hơn 2.500 đối tượng được chuyển nhượng, tăng 107,3%. Cổng sáng kiến lũy kế đến tháng 5/2026 tiếp nhận 67 hồ sơ sáng kiến đột phá.
Chánh Văn phòng Trung ương đảng Nguyễn Hải Ninh cũng cho biết, đối với phát triển trí tuệ nhân tạo và kinh tế dữ liệu, Quốc hội đã ban hành Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo. Việc phát triển ứng dụng AI đã được mở rộng bước đầu trong một số hoạt động quản lý, điều hành, cung cấp dịch vụ và sản xuất kinh doanh.
Đồng chí Nguyễn Hải Ninh khẳng định, quá trình triển khai Nghị quyết 57 trong thực tế cho thấy, một số mô hình tiêu biểu cần được tiếp tục hoàn thiện, nhân rộng như: Đề án 06 của Chính phủ; Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng VNeID với hơn 71 triệu tài khoản kích hoạt dùng trong dịch vụ công, tài chính, ngân hàng, hàng không, y tế; Mạng bảo mật liên thông và nền tảng số dùng chung cơ bản đã hoàn thành 98%, với 7.137 điểm kết nối; Hệ thống điều hành tác nghiệp của Đảng đã triển khai tới toàn bộ xã, phường, đặc khu; Phong trào bình dân học vụ số năm 2026 đạt hơn 880.000 lượt học, gần 27.000 cán bộ cấp xã hoàn thành; Mô hình Hà Nội về quản trị thực thi trên môi trường số đến cấp xã, gắn với đo lường mục tiêu, kết quả và bảo đảm thiết bị đường truyền, chữ ký số; Một số mô hình khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo ở địa phương gắn với chuỗi giá trị như: Thái Nguyên gắn với sản phẩm chè, Cà Mau với tôm tuần hoàn, Lâm Đồng với nông nghiệp công nghệ cao, Đà Nẵng với sâm Ngọc Linh...
Nghị quyết 57-NQ/TW đã tạo chuyển biến mang tính hệ thống trong toàn bộ nền quản trị quốc gia
Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh khẳng định, sau 1 năm 6 tháng triển khai, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước. Điều có ý nghĩa chiến lược nhất không chỉ là kết quả cụ thể đạt được, mà là việc Nghị quyết đã xác lập một mô hình phát triển mới. Trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng, thay dần mô hình phát triển dựa vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp. Đây là sự chuyển đổi tư duy phát triển có tính nền tảng, tạo tiền đề để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển dựa trên trí thức, công nghệ và năng suất.
Nghị quyết số 57 đã tạo được sự chuyển biến mang tính hệ thống trong toàn bộ nền quản trị quốc gia. Lần đầu tiên, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số không còn được xem là lĩnh vực chuyên ngành, mà trở thành nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị; từ trung ương đến địa phương, từ khu vực công đến doanh nghiệp, từ xây dựng thể chế đến tổ chức thực thi đều đang được điều chỉnh theo tư duy số, tư duy đổi mới và tư duy phát triển dựa trên dữ liệu. Đây là sự thay đổi có tính hệ thống, tạo ra năng lực thích ứng của quốc gia trước những biến động nhanh của thế giới.
Nghị quyết 57 đang tạo ra sức ép và đồng thời cũng là động lực để thúc đẩy cải cách trên nhiều lĩnh vực như thể chế, quản trị Nhà nước, môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển nhân lực chất lượng cao, xây dựng hạ tầng số và dữ liệu quốc gia. Có thể nói, Nghị quyết 57 đang đóng vai trò là một động cơ cải cách có sức lan tỏa lớn, vượt ra ngoài phạm vi khoa học và công nghệ.
Nghị quyết 57 cũng đã nâng cao vị thế và khả năng tham gia của Việt Nam trong các xu thế công nghệ toàn cầu. Việt Nam không chỉ tiếp cận mà đang chủ động tham gia vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu, công nghệ số và đổi mới sáng tạo. Việc chủ động tham gia các chuỗi giá trị công nghệ mới giúp mở rộng không gian phát triển, tăng cường năng lực cạnh tranh và củng cố vị thế của Việt Nam trong bối cảnh tái cấu trúc kinh tế toàn cầu.
Đồng chí Nguyễn Hải Ninh nhấn mạnh, sau 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện, những nền tảng quan trọng đã được tạo lập nhưng thành công cuối cùng sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các chủ trương thành kết quả thực chất. Thách thức lớn nhất không còn là điểm nghẽn về thể chế, mà là nâng cao năng lực thực thi, là tháo gỡ các điểm nghẽn về tư duy, hành động và trách nhiệm của mỗi cán bộ đảng viên, nhất là người đứng đầu, là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, là huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, là biến đổi mới sáng tạo thành năng suất và sức cạnh tranh quốc gia.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu để xác lập mô hình phát triển mới của đất nước
Cũng tại Hội nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng đã quán triệt Kết luận của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Ngày 30/6/2026, Văn phòng Trung ương Đảng đã có Công văn thông báo ý kiến của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sơ kết 1 năm 6 tháng tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết 57, với 6 định hướng lớn.
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt Nghị quyết 57 là một trong những nghị quyết chiến lược về phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nhận thức rõ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu để xác lập mô hình phát triển mới của đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV, là nền tảng quan trọng để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ và sức mạnh quốc gia trong thế kỷ 21.
Thứ hai, tập trung tạo chuyển biến thực chất trong tổ chức thực hiện, tạo ra được các sản phẩm công nghệ, doanh nghiệp và không gian phát triển mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, công nghiệp chiến lược, công nghiệp công nghệ cao và các động lực tăng trưởng mới của đất nước. Khẩn trương hoàn thiện các cơ chế thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp công nghệ, hình thành các chuỗi giá trị mới dựa trên tri thức, công nghệ và dữ liệu. Nghiên cứu giải pháp huy động mạnh mẽ sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia, người dân và toàn xã hội.
Thứ ba, đẩy nhanh xây dựng nền tảng quản trị quốc gia hiện đại dựa trên khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Hoàn thiện các hệ thống dữ liệu quốc gia bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông, tạo cơ sở chuyển mạnh từ quản lý hành chính truyền thống sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và thời gian thực. Đẩy nhanh xây dựng hoạt động của hệ thống chính trị trên nền tảng số, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, lấy hiệu quả quản trị quốc gia, mức độ hài lòng của người dân và năng lực điều hành phát triển làm thước đo quan trọng.
Thứ tư, xác định lộ trình 100 ngày tập trung tháo gỡ ngay những điểm nghẽn về chuyển đổi số, khắc phục tình trạng hoàn thành nhiệm vụ, nhưng chưa tạo ra sản phẩm, trang thiết bị đầu cuối chưa đáp ứng yêu cầu làm việc tối thiểu, có nguồn lực nhưng giải ngân chậm, có dữ liệu nhưng chưa kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, xử lý dứt điểm các nhiệm vụ chậm tiến độ, kéo dài, kém hiệu quả.
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, quy trình, tiêu chuẩn, định mức để bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, khả thi, tạo điều kiện thực hiện thống nhất, thông suốt từ Trung ương tới cơ sở.
Thứ năm, bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, an ninh dữ liệu, bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu trọng yếu quốc gia và dữ liệu cá nhân. Xây dựng cơ chế cảnh báo sớm, ứng phó nhanh, khắc phục kịp thời sự cố. Các cơ quan chủ quản chủ động triển khai các giải pháp và chịu trách nhiệm về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo mật dữ liệu.
Thứ sáu, đổi mới căn bản phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện. Xác định rõ mục tiêu, sản phẩm, thời hạn, trách nhiệm và chỉ số đánh giá đối với từng nhiệm vụ cụ thể, lấy kết quả cuối cùng, giá trị tạo cho người dân, doanh nghiệp và đất nước làm thước đo chủ yếu. Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ủy ban Kiểm tra các cấp xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tại cơ quan, đơn vị, địa phương.
Tác giả: Lan Hương - Vũ Hiếu - Nguyễn Hùng
Nguồn: https://quochoi.vn/tintuc/Pages/su-kien-noi-bat.aspx?ItemID=100275





